Giới thiệu Lịch sử phát triển

QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Thứ hai, 20/06/2011 - 12:00 AM

So với nền tư pháp nhân dân của chế độ mới với một bề dày lịch sử, gắn liền với sự ra đời, phát triển và trưởng thành của nhà nước kiểu mới - nhà nước dân chủ nhân dân thì trợ giúp pháp lý ra đời có muộn hơn và cũng còn là hoạt động tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Hoạt động này mới chỉ ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển vượt bậc của 10 năm đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của dịch vụ pháp lý, đặc biệt là nghề luật sư ở Việt Nam. Có thể nói, quan điểm của Đảng lấy con người làm trung tâm trong mọi định hướng phát triển của đất nước đã tạo cơ hội cho sự hình thành và phát triển, dần đi đến hoàn thiện của dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân ngày một cao đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy trợ giúp pháp lý ra đời và phát triển.

 

Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước, từ năm 1945 đến nay, dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước ta đã trải qua các bước phát triển khác nhau phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn của đất nước. Từ năm 1945 đến năm 1996, hoạt động dịch vụ pháp lý miễn phí phát triển gắn liền với hoạt động của luật sư và của các cơ quan tư pháp.  Mặc dù trợ giúp pháp lý mới chính thức được khẳng định là một chế định pháp luật độc lập từ mười năm trở lại đây nhưng những hoạt động mang tính chất trợ giúp pháp lý đã manh nha hình thành và phát triển từ khá lâu trong lịch sử lập pháp nước nhà. Với sự ra đời của Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể luật sư; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán; Sắc lệnh 163/SL ngày 23/3/1946 về tổ chức các Toà án binh và Sắc lệnh số 69-SL ngày 18/6/1949, Sắc lệnh số 113/SL ngày 28/6/1946, những hoạt động mang tính chất trợ giúp pháp lý đã ra đời dưới hình thức “tư pháp bảo trợ”, gắn liền với yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa của "người bị can, bị cáo". Hoạt động này chủ yếu do các luật sư, cán bộ, công chức nhà nước và các công dân khác không phải là luật sư thực hiện dưới sự trợ giúp, bảo đảm kinh phí từ phía nhà nước. Theo đó, nếu muốn được “tư pháp bảo trợ” thì phải làm đơn. Nếu “người đương sự” được kiện thì việc được hưởng “tư pháp bảo trợ” có hiệu lực cho đến khi thi hành xong hẳn bản án mà “người đương sự” không phải nộp một khoản lệ phí nào, kể cả việc cấp trích lục án, phí tổn này sẽ do công khố chịu. Có thể nói dịch vụ pháp lý miễn phí giai đoạn này đã thể hiện sâu sắc bản chất "dân chủ" của nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà non trẻ. Tuy vậy, hoạt động “tư pháp bảo trợ” mới chỉ tập trung ở bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo mà chưa mở rộng bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật cho các đối tượng đặc thù như một số nước trên thế giới vì đất nước ta phải gồng mình tập trung mọi sức lực, của cải cho cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc.

 

Trên nền tảng Hiến pháp 1946, các bản Hiến pháp tiếp theo (1959, 1980, 1992) vấn đề "tư pháp bảo trợ" được tiếp tục thể hiện qua nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Năm 1982, Việt Nam tham gia 2 Công ước lớn: Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và Công ước về các quyền dân sự và chính trị. Theo Điều 14, điểm 3 Phần d Công ước về các quyền dân sự và chính trị, quá trình xét xử một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu là “được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về pháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ pháp lý mà người đó không phải trả tiền nếu không có đủ điều kiện trả”. Việc tham gia các Công ước này đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới tư duy về quyền được tiếp cận luật sư, người có kiến thức pháp luật của mọi công dân không phân biệt giàu nghèo, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định tư pháp bảo trợ với nội dung và phương thức mới, không chỉ dừng lại ở bảo đảm quyền bào chữa mà còn gắn với quyền được tiếp cận và sử dụng pháp luật của công dân, nhất là những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có đủ điều kiện trả tiền) nhằm bảo đảm công bằng xã hội.

 

Ngày 18/12/1987, Pháp lệnh tổ chức luật sư ra đời, tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam. Theo Pháp lệnh, luật sư thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác có giảm phí hoặc miễn thù lao cho một số công dân và tổ chức trong một số trường hợp cụ thể. Thể chế Pháp lệnh 1987, Quy chế Đoàn luật sư ban hành kèm theo Nghị định số 15-HĐBT ngày 21/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã xác định rõ các trường hợp được miễn, giảm thù lao: Nguyên đơn ở Toà án các cấp trong các vụ việc về đòi tiền cấp dưỡng nuôi con; đòi bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động; bồi thường thiệt hại do tai nạn làm chết người trụ cột của gia đình; khiếu nại về việc bầu cử Hội đồng nhân dân; thương binh nặng (loại 1/4, 2/4); đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khi nhờ luật sư giải thích pháp luật để giải thích, hướng dẫn cho cử tri; thành viên của các tổ chức hoà giải khi nhờ luật sư giải thích pháp luật về những vấn đề có liên quan đến hoạt động xã hội của họ. Ngoài ra, người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc các trường hợp đặc biệt khác và đương sự có đơn yêu cầu thì Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư sẽ xem xét việc miễn hoặc giảm chi phí. Do luật sư quá ít nên việc tư vấn pháp luật miễn phí của những người không phải là luật sư cũng được đề cập tại Thông tư số 1119/QLTPK ngày 24/12/1987 và Công văn số 870/CV-LSTV ngày 23/10/1989 của Bộ Tư pháp. Sự ra đời của các văn bản trên đây về cơ bản đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối cụ thể cho sự ra đời và phát triển của dịch vụ pháp lý miễn phí ở Việt Nam. Mặc dù, trong giai đoạn này yếu tố "dịch vụ" chỉ mang tính chất của hoạt động phục vụ mà chưa có yếu tố "thị trường" của "cung" và "cầu".

 

Trước bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc mở rộng quan hệ đầu tư, hợp tác với nước ngoài ngày càng đòi hỏi phải phát triển thị trường dịch vụ pháp lý của luật sư. Yêu cầu đó đặt ra vấn đề cần tạo môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức luật sư nước ngoài vào hành nghề tại Việt Nam nhằm góp phần thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Trước yêu cầu đó, ngày 18/5/1995, tại phiên họp Ban Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: “Chúng ta cần chú ý đến các biện pháp để tăng cường hoạt động pháp lý mang tính kinh doanh, dịch vụ phục vụ đầu tư nhưng cũng cần chú trọng công tác tư vấn, hướng dẫn pháp luật cho nhân dân, mà đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc ít người. Công tác này chưa được quan tâm đúng mức. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu và làm ngay trong thời gian tới”. Ngày 31/5/1995, Văn phòng Trung ương Đảng đã có Công văn số 485/CV-VPTW thông báo ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư gửi Ban cán sự Đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp đề nghị “xác định phạm vi thích hợp hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân, trước hết chú trọng tổ chức tư vấn pháp luật của nhà nước…; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật”. Trong thư ngày 20/12/1995 gửi cán bộ, nhân viên ngành Tư pháp nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập ngành, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười một lần nữa nhấn mạnh: “Nhà nước phải nghiên cứu sớm thành lập một hệ thống các tổ chức tư vấn pháp luật không mất tiền dành cho người nghèo, các gia đình thuộc diện chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số”. Chỉ đạo này đã định hướng để đổi mới tư duy về công tác cung ứng dịch vụ pháp lý, đặt mốc cho quá trình chuyển biến sâu sắc, mạnh mẽ và toàn diện trong nhận thức và hoạt động của đời sống pháp luật, tạo tiền đề về mặt chính trị - pháp lý cho sự ra đời và phát triển của công tác trợ giúp pháp lý.

 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ động nghiên cứu, tham mưu giúp Chính phủ triển khai thí điểm thành lập các Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tại một số tỉnh. Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Cần Thơ được thành lập ngày 13/7/1996, Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Hà Tây được thành lập ngày 28/01/1997. Hoạt động trợ giúp pháp lý thí điểm ở 2 địa phương cho thấy, nhân dân Cần Thơ và Hà Tây đón nhận trợ giúp pháp lý như một chính sách xã hội rộng lớn, hoan nghênh chủ trương này của Đảng và Nhà nước. Do được UBND nhiệt tình hưởng ứng, người dân biết đến nhanh nên hoạt động trợ giúp pháp lý đã thu được một số kết quả đáng khích lệ (trên 700 vụ/2 địa phương), số vụ việc ngày càng tăng, nhiều đối tượng đã gửi thư cảm ơn. Lãnh đạo hai tỉnh đánh giá cao và coi đây là một trong những loại hình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống hiệu quả nhất. Kết quả thí điểm là tiền đề rất quan trọng cho sự ra đời của công tác trợ giúp pháp lý ở Việt Nam.


Từ những kết quả ban đầu, trên cơ sở kinh nghiệm tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý của các nước phát triển và xu hướng vận động và phát triển của trợ giúp pháp lý trên thế giới, Bộ Tư pháp đã hoàn thiện Đề án về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý và báo cáo xin ý kiến Trung ương, Chính phủ. Ngày 17/3/1997, tại buổi làm việc với Bộ Tư pháp, đồng chí Võ Văn Kiệt, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ dân đi kiện, vấn đề là làm sao để dân kiện đúng, kiện đúng người, đúng việc, đúng chỗ nếu họ bị oan sai, giúp Nhà nước phát hiện những vi phạm công vụ, những “con sâu bỏ dầu nồi canh”, khắc phục bất cập của Nhà nước đối với những vướng mắc của người dân. Các tổ chức trợ giúp pháp lý ra đời sẽ giúp dân và Nhà nước giải quyết vấn đề này”. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý về nguyên tắc đối với việc thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý và yêu cầu Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức, Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) sớm hoàn chỉnh Đề án trình Chính phủ. Tại kỳ họp lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, lần đầu tiên Trung ương Đảng ghi nhận trong Nghị quyết định hướng chỉ đạo triển khai công tác trợ giúp pháp lý: “Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí”. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận với pháp luật của người nghèo, phù hợp với truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam “lá lành đùm lá rách”, “đền ơn đáp nghĩa”; thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta trong việc thực hiện dân chủ, hướng về cơ sở, gần dân, sát dân, tạo thuận lợi cho dân trong tiếp cận pháp luật. Đồng thời thực hiện nhất quán quan điểm quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân theo pháp luật và phù hợp với xu thế phát triển của cộng đồng quốc tế.

 

Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước. Theo đó, ở Trung ương, Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp được thành lập (Điều 1), ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập (Điều 4). Cục Trợ giúp pháp lý vừa có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, vừa trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý trong trường hợp cần thiết; thực hiện việc hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý và quản lý Quỹ trợ giúp pháp lý; tổ chức bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho đội ngũ cán bộ trợ giúp pháp lý và cộng tác viên; tham gia phổ biến và giáo dục pháp luật cho người nghèo và đối tượng chính sách (Điều 2). Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có chức năng thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Cục Trợ giúp pháp lý và Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước được sử dụng cộng tác viên (Điều 5).


Ngày 14/01/1998, liên bộ Tư pháp - Tài chính - Tổ chức Cán bộ Chính phủ - Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư liên tịch số 52/TTLT/TP-TC-TCCP-LĐTBXH hướng dẫn thi hành Quyết định số 734/TTg. Theo đó, người được trợ giúp pháp lý bao gồm: người nghèo và đối tượng chính sách, cụ thể là người thuộc hộ đói, nghèo; người hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh mất sức lao động từ 61% trở lên; vợ (hoặc chồng), cha mẹ đẻ, người có công nuôi liệt sĩ, con liệt sĩ dưới 18 tuổi; người có công giúp đỡ cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh, hải đảo và các đối tượng được miễn án phí. Cục Trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc mà Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước chuyển lên do có vướng mắc hoặc không thực hiện được và các vụ việc do các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan ở Trung ương chuyển đến. Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước có chức năng thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí và tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Trung tâm có nhiệm vụ tư vấn, đại diện, bào chữa miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan đến pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự; dân sự - hôn nhân gia đình và tố tụng; hành chính và khiếu nại, tố cáo; lao động, việc làm; đất đai, nhà ở và các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của công dân không thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại. Để cụ thể hoá các quy định trên đây, đã có 16 văn bản của liên bộ Tư pháp - Tài chính - Nội vụ - Lao động, Thương binh và Xã hội, của Bộ trưởng Bộ Tư pháp được ban hành để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của tổ chức trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý; phạm vi, phương thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, kinh phí bảo đảm cho hoạt động cũng như thu hút các nguồn lực xã hội vào công tác này.

 

Sau 03 năm triển khai hoạt động, để thúc đẩy hoạt động trợ giúp pháp lý phát triển, ngày 01/03/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/2000/CT-TTg về việc tăng cường công tác trợ giúp pháp lý. Chỉ thị đã đánh giá: “Trong thời gian qua (1997-2000) các Bộ, ngành và UBND các cấp đã nỗ lực, công tác trợ giúp pháp lý đã được triển khai thực hiện khẩn trương, nghiêm túc và có hiệu quả, tạo điều kiện cho nhiều người nghèo và đối tượng chính sách hiểu biết pháp luật, giúp họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”. Chỉ thị xác định trợ giúp pháp lý là một bộ phận trong tổng thể chính sách thực hiện dân chủ ở cơ sở; thiết lập quan hệ phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý, làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc trả lời các kiến nghị của tổ chức trợ giúp pháp lý, thiết lập cơ chế để hướng dẫn các tổ chức chính trị - xã hội tham gia công tác này. Thủ tướng nhấn mạnh "Công tác trợ giúp pháp lý đã và đang trực tiếp hướng dẫn nhân dân sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân, giữ đoàn kết trong cộng đồng, bảo đảm cho các quyền của công dân được tôn trọng trong thực tế, góp phần ổn định trật tự xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội".

 

 Năm 2001 Pháp lệnh Luật sư được thông qua, Pháp lệnh đã thiết lập cơ chế pháp lý khuyến khích, huy động đội ngũ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách (Điều 6). Ngày 05/8/2002, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc mẫu về đạo đức hành nghề luật sư kèm theo Quyết định số 356/2002/QĐ-BTP. Theo Quy chế việc thực hiện trợ giúp pháp lý là nghĩa vụ cao cả của các luật sư. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, luật sư phải tận tâm, tích cực thực hiện như đối với các vụ việc có thù lao và nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý là một trong những quy tắc đạo đức nghề nghiệp mà luật sư phải tuân thủ trong quá trình hành nghề của mình (Quy tắc 4). Việc chi trả cho luật sư làm trợ giúp pháp lý được vận dụng theo Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ quy định về mức phí trả cho luật sư trong các án chỉ định (Điều 34).

 

Để khuyến khích những người có trình độ pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho nhân dân trong phạm vi và khả năng, ngày 11/6/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2003/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động tư vấn pháp luật. Nghị định đã tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển loại hình tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cho phép các tổ chức này thực hiện tư vấn pháp luật có thu phí để bù đắp ngân sách cho hoạt động, giúp đỡ pháp lý miễn phí cho thành viên, hội viên của tổ chức này và tham gia trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách. Nghị định xác định rõ diện đối tượng được tư vấn pháp luật miễn phí bao gồm: thành viên, hội viên của tổ chức chủ quản; người nghèo, đối tượng chính sách được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí. Tại Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5/2005 của liên bộ Tư pháp và Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của các cơ quan chuyên môn giúp UBND thực hiện quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, đã xác định rõ Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước và trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý.

 

Kịp thời thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối và chính sách của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp đỡ pháp luật cho nhân dân theo tinh thần, nội dung nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X và các Nghị quyết của Bộ Chính trị, trong đó có Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, khuyến khích phát triển nghề luật sư trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngày 29/6/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Luật sư và Luật Trợ giúp pháp lý. Sự ra đời của 2 Đạo luật này đã thể hiện nhất quán chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc giúp đỡ pháp luật, hỗ trợ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nhân dân đặc biệt là người nghèo và đối tượng chính sách, đánh dấu bước chuyển về chất và đưa công tác trợ giúp pháp lý lên một tầm cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước.

Người được TGPL

Thủ tục TGPL

Hỏi đáp pháp luật

Gửi tin bài

Quảng cáo phai 3

Quảng cáo phải 1

Quảng cáo phải 2